BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ I.2025

BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC

QUÝ I- NĂM 2025

THÔNG TIN LƯU HÀNH NỘI BỘ

CẢNH GIÁC DƯỢC:

Health Canada: Cập nhật thông tin sản phẩm của các thuốc ức chế SGLT-2 tại Canada

Tờ thông tin sản phẩm của các thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose (SGLT2) tại Canada sẽ được cập nhật nguy cơ nhiễm toan ceton do đái tháo đường (DKA) kéo dài dù đã ngừng sử dụng thuốc và điều trị DKA theo phác đồ. Đồng thời, các khuyến cáo về thời điểm ngừng dùng thuốc ức chế SGLT2 trước phẫu thuật lớn ở bệnh nhân đái tháo đường typ II cũng sẽ được bổ sung. 

Khuyến cáo dành cho các nhân viên y tế: 

Trong đa số báo cáo phản ứng có hại hậu mại nghi ngờ hoặc đã xác định gặp DKA, tình trạng nhiễm toan ceton có thể kéo dài từ 3 ngày trở lên, ngay cả khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2 và thực hiện xử trí DKA theo phác đồ tiêu chuẩn.


 

Đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm toan ceton do đái tháo đường xảy ra sau phẫu thuật khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2 trước đó 2 ngày hoặc ngắn hơn. Do đó, khuyến cáo tạm ngừng thuốc ức chế SGLT2 ít nhất 3 ngày trước khi tiến hành các phẫu thuật lớn hoặc các thủ thuật yêu cầu nhịn ăn dài, nhằm đảm bảo phần lớn thuốc được đào thải khỏi cơ thể.


 

Khuyến cáo theo dõi tình trạng nhiễm toan ceton do đái tháo đường ở bệnh nhân sau phẫu thuật ngay cả khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2. Đảm bảo loại trừ các yếu tố nguy cơ gây nhiễm toan ceton trước khi tái sử dụng thuốc ức chế SGLT2.


 

Tờ thông tin sản phẩm các thuốc ức chế SGLT2 (bao gồm canagliflozin, dapagliflozin, và empagliflozin) tại Canada sẽ cập nhật bổ sung nguy cơ nhiễm toan ceton do đái tháo đường (DKA) kéo dài khi sử dụng thuốc ức chế SGLT2, ngay cả khi đã ngừng sử dụng và điều trị DKA theo phác đồ tiêu chuẩn. Đồng thời, các khuyến cáo về thời điểm ngừng thuốc ức chế SGLT2 trước phẫu thuật lớn ở bệnh nhân đái tháo đường typ II cũng sẽ được bổ sung vào mục Liều dùng và Cách dùng trong các tờ thông tin sản phẩm tương ứng.

 

 

Health Canada: Hội chứng viêm ruột liên quan đến kháng sinh amoxicillin

 

Thông tin dành cho nhân viên y tế:

 

Hội chứng viêm ruột do thuốc là một phản ứng dị ứng với triệu chứng điển hình là nôn kéo dài (1-4 giờ sau khi dùng thuốc), chủ yếu được báo cáo ở trẻ em sử dụng các thuốc chứa amoxicillin. Các triệu chứng khác có thể bao gồm đau bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, hạ huyết áp hoặc tăng bạch cầu trung tính. Trong các trường hợp nghiêm trọng, hội chứng viêm ruột do thuốc có thể tiến triển thành sốc.

 

Bệnh nhân nên được khuyến cáo ngừng sử dụng thuốc chứa amoxicillin và thông báo ngay cho nhân viên y tế nếu gặp các triệu chứng của hội chứng viêm ruột do thuốc, vì đây có thể là dấu hiệu của một phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

 

Nguy cơ gặp hội chứng viêm ruột sẽ được cập nhật trong các tờ thông tin sản phẩm của thuốc chứa amoxicillin. Thông tin này sẽ được cập nhật tại các mục Cảnh báo và thận trọng, Tác dụng không mong muốn, Thông tin thuốc dành cho bệnh nhân trong tờ thông tin sản phẩm của các thuốc chứa amoxicillin lưu hành tại Canada.

 

JAMA: Nguy cơ gặp phản ứng có hại trên da nghiêm trọng (SCAR) khi sử dụng kháng sinh đường uống

 

Một nghiên cứu bệnh chứng lồng ghép thuần tập kéo dài 20 năm chỉ ra kháng sinh nhóm sulfonamid và nhóm cephalosporin có nguy cơ xảy ra SCAR cao nhất, sau đó là kháng sinh nhóm nitrofurantoin, penicillin và fluoroquinolon, với kháng sinh macrolid là nhóm tham chiếu.

 

Lý do triển khai nghiên cứu

 

Phản ứng có hại trên da nghiêm trọng (cutaneous adverse drug reaction - SCAR) là phản ứng quá mẫn với thuốc trên da và các cơ quan, có khả năng đe dọa tính mạng. Kháng sinh là một nguyên nhân đã biết gây ra những phản ứng này, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào so sánh nguy cơ tương đối giữa các nhóm kháng sinh.

 

Mục tiêu

 

Khảo sát nguy cơ xảy ra SCAR liên quan đến thuốc kháng sinh đường uống thường được kê đơn và đặc điểm bệnh nhân nhập viện vì các phản ứng này.

 

Thiết kế và Đối tượng nghiên cứu

 

Nghiên cứu bệnh chứng lồng ghép sử dụng cơ sở dữ liệu y tế, lựa chọn những người cao tuổi từ 66 tuổi trở lên đã sử dụng ít nhất 1 loại kháng sinh đường uống trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2022 tại bang Ontario, Canada. Nhóm ca bệnh là bệnh nhân nhập khoa cấp cứu (ED) hoặc nhập viện vì SCAR trong vòng 60 ngày kể từ ngày được kê đơn kháng sinh, và mỗi ca bệnh được ghép với tối đa 4 ca chứng là bệnh nhân không cần nhập viện.

 

Can thiệp

 

Sử dụng kháng sinh đường uống

 

Kết quả chính và tiêu chí nghiên cứu

 

Ước tính hồi quy logistic có điều kiện được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các nhóm kháng sinh đường uống và nguy cơ xảy ra SCAR, sử dụng macrolid làm nhóm tham chiếu.

 

Kết quả   

Trong giai đoạn nghiên cứu kéo dài 20 năm, 21.758 người cao tuổi (trung vị tuổi là 75; 64,1% là nữ) đã đến khoa cấp cứu hoặc nhập viện vì SCAR sau khi sử dụng kháng sinh và 87.025 trường hợp không phải nhập viện (ca chứng). Kháng sinh nhóm sulfonamid (tỷ lệ chênh đã hiệu chỉnh [aOR], 2,9; khoảng tin cậy 95% Cl 2,7-3,1) và nhóm cephalosporin (aOR, 2,6; 95% Cl 2,5-2,8) có mối liên quan chặt chẽ nhất với SCAR khi so sánh với nhóm macrolid. Kết quả cũng chỉ ra mối liên quan giữa SCAR với nhóm nitrofurantoin (aOR, 2,2; 95% CI, 2,1-2,4), nhóm penicillin (aOR, 1,4; 95% CI, 1,3-1,5) và nhóm fluoroquinolon (aOR, 1,3; 95% CI, 1,2-1,4). Tỷ lệ bệnh nhân đến khoa cấp cứu hoặc nhập viện vì SCAR cao nhất khi sử dụng kháng sinh nhóm cephalosporin (4,92 trên 1000 đơn thuốc; 95% CI 4,86-4,99) và nhóm sulfonamid (3,22 trên 1000 đơn thuốc; 95% CI 3,15-3,28). Trong số 2852 bệnh nhân nhập viện do SCAR, trung vị thời gian nằm viện là 6 ngày (IQR, 3-13 ngày), 9,6% trong số đó cần chuyển đến khoa hồi sức tích cực và 5,3% tử vong tại bệnh viện.

Kết luận

Những kháng sinh đường uống thường được kê đơn có liên quan đến tăng nguy cơ gặp SCAR, trong đó sulfonamid và cephalosporin là 2 nhóm kháng sinh có nguy cơ cao nhất. Nhân viên y tế cần ưu tiên kê đơn kháng sinh có nguy cơ thấp hơn phù hợp với tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

 

Bản tin WHO số 4/2024: Sử dụng colistin và nguy cơ hạ kali, magnesi và calci máu

 

Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW) và Cơ quan Dược phẩm và Thiết bị Y tế Nhật Bản (PMDA) đã ghi nhận 5 báo cáo ca quốc tế, được đánh giá có mối quan hệ nhân quả giữa sử dụng colistin natri sulfomethat (đường tĩnh mạch) và các biến cố hạ kali máu, hạ magnesi máu và hạ calci máu.

MHLW và PMDA đã cập nhật thông tin trên nhãn thuốc của colistin natri sulfomethat (đường tĩnh mạch), bổ sung các nguy cơ gặp các biến cố này, đồng thời khuyến nghị thực hiện các xét nghiệm định kỳ để theo dõi triệu chứng ở bệnh nhân.

Dạng thuốc uống và thuốc nhỏ mắt không có phần cập nhật bổ sung này vì chưa ghi nhận báo cáo các biến cố liên quan và thuốc ít có chuyển hóa đường toàn thân.

 

ANSM: Bắt buộc kê đơn đối với thuốc chứa pseudoephedrin đường uống

 

Từ ngày 11/12/2024, ANSM thay đổi điều kiện cấp phát thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin thành thuốc bắt buộc kê đơn. Đây là biện pháp của ANSM nhằm giảm thiểu nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn nghiêm trọng khi sử dụng thuốc này (bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quy).

 

Trong nhiều năm, Cơ quản Quản lý Dược phẩm và Sinh phẩm y tế Pháp (ANSM) đã ban hành một số biện pháp giảm thiểu nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn hiếm gặp nhưng nghiêm trọng khi sử dụng thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin, bao gồm cung cấp thông tin cho nhân viên y tế, người bệnh và cấm quảng cáo thuốc. Tuy nhiên, những biện pháp này là chưa đủ để hạn chế các đối tượng có nguy cơ cao sử dụng thuốc.

Tháng 12/2023, Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) đã đưa ra khuyến cáo về việc áp dụng các biện pháp mới nhằm giảm thiểu nguy cơ gặp các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng khi sử dụng thuốc chứa pseudoephedrin, bao gồm hội chứng bệnh não sau có hồi phục (posterior reversible encephalopathy syndrome - PRES) và hội chứng co thắt mạch não có hồi phục (reversible cerebral vasoconstriction syndrome - RCVS), cùng với các nguy cơ đã biết (nhồi máu cơ tim và đột quỵ). Bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ vẫn có thể gặp các tác dụng không mong muốn nêu trên, bất kể liều lượng và thời gian sử dụng thuốc. Do thuốc chứa pseudoephedrin là thuốc không kê đơn, đã có nhiều trường hợp lạm dụng thuốc bất kể chống chỉ định.


Thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin có nhiều chống chỉ định và tác dụng không mong muốn đã biết. Để hạn chế bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao gặp biến cố bất lợi sử dụng thuốc để điều trị cảm cúm thông thường (thường khỏi sau 7 đến 10 ngày), ANSM đã thống nhất đưa pseudoephedrin vào danh sách hoạt chất nhóm I (thuốc bắt buộc kê đơn). Như vậy, từ ngày 11/12/2024, thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin là thuốc bắt buộc kê đơn, bệnh nhân cần có tư vấn của bác sĩ trước khi sử dụng thuốc. 

Thuốc co mạch đường hít được đưa vào nhóm thuốc kê đơn từ nhiều năm trước, do tác dụng không mong muốn trên tim mạch và thần kinh đã biết.


Bệnh nhân sẽ được nhân viên y tế cung cấp tờ thông tin về nguy cơ khi sử dụng thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin tại thời điểm kê đơn và cấp phát. 


ANSM tiếp tục khuyến cáo không sử dụng thuốc co mạch đường uống chứa pseudoephedrin để điều trị triệu chứng cảm cúm.

 

ANSM: Pháp thắt chặt điều kiện kê đơn và cấp phát valproat trên trẻ vị thành niên và nam giới dự định có con

 

Tại Pháp, valproat và dẫn chất có chỉ định điều trị động kinh và rối loạn lưỡng cực. Trên phụ nữ mang thai, valproat có nguy cơ cao gây dị tật thai nhi (11%) và rối loạn phát triển thần kinh (30-40%). Chống chỉ định kê đơn valproat cho phụ nữ có thai trừ trường hợp không dung nạp hoặc không đáp ứng với các thuốc thay thế. 

 

Theo đề xuất của ANSM, Ủy ban Đánh giá nguy cơ Cảnh giác Dược (PRAC) của Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) đã đưa ra khuyến cáo về các biện pháp phòng ngừa khi bệnh nhân nam sử dụng valproat, đồng thời cảnh báo cho nhân viên y tế về nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh.

 

Theo đó, chỉ bác sĩ thần kinh, bác sĩ tâm thần, bác sĩ chuyên khoa nhi được kê đơn khởi đầu điều trị bằng valproat và dẫn chất. Tất cả bác sĩ có thể ký đơn thuốc tiếp tục điều trị.

 

Bác sĩ và bệnh nhân cùng phải ký vào phiếu xác nhận thông tin (attestation d’information partagée) hàng năm. Dược sĩ chỉ cấp phát thuốc khi bệnh nhân xuất trình được cả phiếu xác nhận thông tin và đơn thuốc của bác sĩ.

 

Ngoài ra, phiếu đồng ý điều trị bằng valproat dùng cho bệnh nhân nữ có khả năng mang thai sẽ được thay thế bằng phiếu xác nhận thông tin có hiệu lực 01 năm. Bệnh nhân có thể tiếp tục sử dụng phiếu đồng ý điều trị cho tới khi phiếu này hết hạn.

 

EMA: Các bằng chứng hiện tại không ủng hộ mối liên quan giữa việc sử dụng doxycylin với một số rối loạn tâm thần nghiêm trọng

 

Ủy ban Đánh giá nguy cơ Cảnh giác Dược (PRAC) thuộc Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) đã đưa ra kết luận: Các bằng chứng hiện có không ủng hộ mối liên quan giữa việc sử dụng kháng sinh doxycylin với biến cố có ý định và hành vi tự sát ở bệnh nhân

 

Doxycyclin là kháng sinh phổ rộng, được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiều loại nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra như mụn trứng cá, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, nhiễm trùng răng miệng và nhiễm trùng da. Doxycyclin còn được sử dụng trong dự phòng sốt rét.

Tín hiệu an toàn về nguy cơ xuất hiện ý định và hành vi tự sát khi sử dụng doxycyclin đã được phát hiện sau khi có một số báo cáo ca được ghi nhận ở Phần Lan, trong Cơ sở dữ liệu về phản ứng có hại của Châu Âu EudraVigilance và các tài liệu y văn.

Từ tháng 11/2023, PRAC đã tiến hành đánh giá nguy cơ này và yêu cầu các đơn vị kinh doanh thuốc chứa doxycyclin thực hiện một đánh giá tổng thể từ tất cả các nguồn dữ liệu liên quan.  

PRAC cũng tiến hành phân tích tín hiệu từ một nghiên cứu khác dựa trên dữ liệu đời thực bao gồm: bệnh án điện tử và hồ sơ bệnh án của bệnh nhân. Sau khi xem xét các bằng chứng hiện có từ các báo cáo tự nguyện, tài liệu y văn, bàn luận về các cơ chế có thể xảy ra và dữ liệu nghiên cứu hiện có,  PRAC kết luận hiện không đủ bằng chứng để xác nhận mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng doxycyclin và biến cố có ý định và hành vi tự sát ở bệnh nhân. Do đó, PRAC cho rằng chưa cần cập nhật tờ thông tin sản phẩm của doxycyclin liên quan đến biến cố này.

Nguy cơ rối loạn tâm thần liên quan đến sử dụng doxycyclin sẽ tiếp tục được theo dõi chặt chẽ và cập nhật các bằng chứng mới trong Báo cáo Cập nhật an toàn định kỳ (PSURs)

 

Medsafe: Độc tính của aciclovir và valaciclovir trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận

Aciclovir và valaciclovir

Aciclovir và valaciclovir là các thuốc kháng virus được sử dụng để phòng ngừa và/hoặc điều trị các bệnh nhiễm virus, bao gồm nhiễm virus herpes simplex (HSV), varicella zoster (bệnh thủy đậu) và cytomegalovirus (CMV). Tại New Zealand, aciclovir hiện có sẵn dưới dạng bào chế đường tĩnh mạch (IV) và đường uống, trong khi valaciclovir chỉ có sẵn dưới dạng đường uống.

Aciclovir đường uống có sinh khả dụng thấp. Valaciclovir là tiền chất của aciclovir, có sinh khả dụng cao hơn. Aciclovir đường tĩnh mạch có sinh khả dụng cao nhất và được khuyến cáo sử dụng trong điều trị các trường hợp nhiễm trùng nặng.

 

Nguy cơ nhiễm độc thần kinh ở bệnh nhân suy thận

Aciclovir thải trừ qua thận thông qua cả quá trình lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận. Do đó, bệnh nhân suy thận có khả năng bị tích lũy aciclovir.

Nồng độ aciclovir trong máu cao có thể dẫn đến nhiễm độc thần kinh.

Aciclovir dễ dàng vượt qua hàng rào máu não. Ở bệnh nhân suy thận, nồng độ thuốc trong cơ thể có thể tăng lên dẫn đến nhiễm độc thần kinh. Các triệu chứng bao gồm lơ mơ, lú lẫn, ảo giác, kích động, co giật và hôn mê. Triệu chứng thường có thể mất đi sau khi ngừng thuốc.

 

Lời khuyên cho nhân viên y tế

Đánh giá chức năng thận của bệnh nhân trước khi kê aciclovir hoặc valaciclovir. Giảm liều và/hoặc tần suất dùng thuốc theo mức độ suy giảm chức năng thận.

Tham khảo các khuyến cáo trong tờ thông tin sản phẩm của thuốc.

Trong quá trình điều trị, đảm bảo bệnh nhân uống đủ nước và theo dõi chặt chẽ các tác dụng không mong muốn trên thần kinh.

 

Nguy cơ bỏng khi sử dụng miếng dán trên da trong quá trình chụp cộng hưởng từ (MRI): Thông tin từ Bản tin BIP Occitanie số 04/2024

 

Nguy cơ bỏng khi sử dụng miếng dán qua da trong quá trình chụp cộng hưởng từ (MRI) đã được cảnh báo từ năm 2006 bởi Cơ quan quản lý Dược phẩm và Sản phẩm y tế Pháp (ANSM). Năm 2014, ANSM đã đưa ra các hướng dẫn nhằm nâng cao việc sử dụng đúng cách miếng dán trên da và khuyến cáo bệnh nhân cũng như các nhân viên y tế về những rủi ro liên quan. Trong thực tế, một số miếng dán có lớp màng bảo vệ chứa kim loại, thường là nhôm. Mặc dù nhôm không có từ tính, nhưng đây là một kim loại dẫn điện và có thể gây bỏng do tác động của dòng điện tạo ra bởi trường tần số vô tuyến của máy MRI. Do đó, ANSM khuyến cáo nên gỡ miếng dán trên da trước khi chụp MRI và dán lại sau khi kết thúc quá trình chụp, trừ trường hợp chắc chắn rằng miếng dán không chứa vật liệu dẫn điện. Trong trường hợp gỡ miếng dán, cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có biện pháp đảm bảo điều trị phù hợp cho việc gián đoạn này đối với từng loại thuốc liên quan. 

Thông tin liên quan đến thành phần kim loại dẫn điện trong miếng dán trên da có thể được tìm thấy trong tờ thông tin sản phẩm và hướng dẫn sử dụng thuốc. Tuy nhiên, thành phần chứa nhôm có thể thay đổi tùy theo từng nhà sản xuất đối với một hoạt chất cụ thể, và không nhất thiết phải có cảnh báo về MRI trong tờ thông tin sản phẩm.

Do đó, trước khi thực hiện chụp MRI, cần hỏi bệnh nhân về tất cả các thuốc bệnh nhân đang sử dụng, bao gồm thuốc dạng miếng dán, và xác định chính xác chế phẩm để kiểm tra thành phần của thuốc. Nguy cơ tương tự cũng đã được ghi nhận ở các loại băng gạc có chứa bạc.

Nhóm thuốc điều trị

Ví dụ về miếng dán trên da lưu hành tại Việt Nam

Thuốc giảm đau, gây mê

Durogesic (fentanyl), fentanyl

Thuốc tránh thai

Evra (norelgestromin, ethinylestradiol)

Thuốc kháng cholinesterase

Exelon (rivastigmin), rivastigmin

Chất chủ vận Dopamin

Neupro (rotigotin)

 

Thận trọng khi sử dụng methotrexat đường uống: Thông tin từ Bản tin BIP Occitanie số 04/2024

Methotrexat (MTX) được chỉ định trong điều trị bệnh lý viêm và ung thư, là thuốc có cửa sổ điều trị hẹp và có liên quan đáng kể tới nguy cơ xảy ra sai sót trong sử dụng thuốc, đặc biệt là tần suất sử dụng thuốc. Các sai sót bao gồm việc sử dụng methotrexat hàng ngày thay vì hàng tuần trong điều trị các bệnh lý viêm. Một trường hợp sai sót trong sử dụng MTX được mô tả gần đây: bệnh nhân nhầm lẫn giữa Imenor và Tahor, dẫn đến việc sử dụng đồng thời Imenor và Imeth (hai chế phẩm đường uống khác nhau của MTX). Sai sót này đã gây ra biến cố bất sản tủy xương, một tác dụng không mong muốn nghiêm trọng của MTX. Trường hợp này cảnh báo về một vấn đề liên quan đến MTX vẫn còn có thể tái diễn, đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp cụ thể thay vì chỉ đưa ra các cảnh báo thận trọng.

 

Các nguy cơ độc tính liên quan tới sai sót sử dụng thuốc lặp lại qua đường uống đang trở nên đáng lo ngại và đã được liệt kê trong danh sách “Sự cố không bao giờ được phép xảy ra” từ năm 2012. Một số biện pháp đã được đưa ra nhằm nâng cao nhận thức của bệnh nhân và các nhân viên y tế về vấn đề này. Năm 2019, Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) ghi nhận sự gia tăng nguy cơ sai sót về liều của MTX. Do đó, nhiều biện pháp phòng ngừa được triển khai, bao gồm: cung cấp thông tin và thay đổi tờ thông tin sản phẩm. Ngoài ra, biện pháp đề xuất giảm số lượng viên trong mỗi hộp không được thông qua. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu đánh giá tác động của những biện pháp này được thực hiện năm 2022 trên 5 quốc gia châu Âu cho thấy các biện pháp được thực hiện từ 2019 đến 2021 không đủ hiệu quả để dự phòng các sai sót sử dụng thuốc liên quan tới MTX.

Trước khi có các biện pháp mới, nhân viên y tế cần đảm bảo trao đổi rõ ràng với bệnh nhân đang điều trị bằng MTX, đặc biệt khi có thay đổi trong kê đơn. Bên cạnh đó, cần đảm bảo bệnh nhân nắm rõ các hướng dẫn và tầm quan trọng của việc tuân thủ liều lượng được kê đơn.

 

TGA: Cập nhật cảnh báo đặc biệt về tác dụng không mong muốn trên tâm thần kinh khi sử dụng montelukast

 

Ngày 16/01/2025, TGA đưa ra cảnh báo về tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên tâm thần kinh khi sử dụng thuốc chứa montelukast, bao gồm thay đổi hành vi, trầm cảm và có ý định tự sát. Đồng thời, thông tin sản phẩm của montelukast được cập nhật bổ sung Cảnh báo đặc biệt (Boxed warning) mới và hướng dẫn xử trí những biến cố này cho người kê đơn và bệnh nhân.

Vào tháng 07/2018, TGA đã triển khai một đánh giá tổng quan mối liên hệ giữa sử dụng montelukast và biến cố bất lợi trên tâm thần kinh, đánh giá y văn hiện có và tham vấn ý kiến từ các CQQL trên thế giới và tư vấn chuyên môn của Ủy ban Tư vấn về thuốc (ACM).

Đến năm 2024, độ an toàn của montelukast tiếp tục được đánh giá lại, sau khi các CQQL trên thế giới tăng cường cảnh báo về nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn trên tâm thần kinh. Các chuyên gia của ACM đưa ra kết luận rằng không có nguy cơ mới, và bằng chứng về mối liên quan giữa biến cố tâm thần kinh và sử dụng montelukast là chưa chắc chắn.

Tính đến ngày 18/12/2024, Cơ sở dữ liệu về tác dụng không mong muốn của Úc (Database of Adverse Event Notifications - DAEN) đã ghi nhận 356 báo cáo biến cố rối loạn tâm thần kinh và có sử dụng montelukast. Các triệu chứng được ghi nhận nhiều nhất bao gồm hung hăng (100 báo cáo), lo âu (87 báo cáo), có ý định tự sát (72 báo cáo), trầm cảm (71 báo cáo), mất ngủ (52 báo cáo) và gặp ác mộng (50 báo cáo). 91 báo cáo đề cập đến hành vi tự sát, trong đó 10 báo cáo có kết quả là tử vong.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia tham vấn, từ tháng 01/2025, tờ thông tin sản phẩm của các thuốc chứa montelukast sẽ được cập nhật thêm Cảnh báo đặc biệt và bổ sung thông tin mục Cảnh báo và thận trọng. Cụ thể thông tin được cập nhật như sau:

CẢNH BÁO: biến cố trên tâm thần kinh nghiêm trọng

Biến cố trên tâm thần kinh bao gồm thay đổi hành vi, trầm cảm và có ý định tự sát đã được ghi nhận khi sử dụng montelukast ở tất cả các độ tuổi (xem mục 4.4 và 4.8). Biến cố thường có mức độ nhẹ và có thể xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể trầm trọng hơn nếu không ngừng sử dụng thuốc. Do vậy, cần ngừng sử dụng montelukast nếu xuất hiện triệu chứng trên tâm thần kinh. Khuyến cáo bệnh nhân và/hoặc người chăm sóc theo dõi sát các triệu chứng và báo bác sĩ nếu có sự thay đổi về hành vi.

Mục 4.4. Cảnh báo và thận trọng:

Bác sĩ kê đơn cần thảo luận với bệnh nhân và người chăm sóc về lợi ích và nguy cơ khi sử dụng montelukast. Bệnh nhân và/hoặc người chăm sóc cần theo dõi sự thay đổi hành vi hoặc các triệu chứng trên tâm thần kinh của bệnh nhân. Nếu xuất hiện các triệu chứng trên, khuyến cáo bệnh nhân ngừng sử dụng montelukast và đi khám ngay lập tức. Trong nhiều trường hợp, triệu chứng thuyên giảm khi ngừng sử dụng thuốc; tuy nhiên một số trường hợp ghi nhận triệu chứng vẫn còn dai dẳng. Với những trường hợp này, bệnh nhân cần được theo dõi sát và có sự hỗ trợ của nhân viên y tế. Người kê đơn cần thận trọng đánh giá lợi ích và nguy cơ của việc tiếp tục sử dụng montelukast nếu bệnh nhân đã từng gặp biến cố trên tâm thần kinh.

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế:

- Nhân viên y tế cần được cảnh báo về nguy cơ gặp biến cố trên tâm thần kinh khi sử dụng montelukast. Biến cố này đã được ghi nhận trên mọi độ tuổi, với mức độ nhẹ và có thể xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên, triệu chứng có thể trầm trọng hơn nếu tiếp tục sử dụng thuốc. Một số trường hợp hiếm gặp ghi nhận bệnh nhân tử vong sau khi có ý định tự sát.

- Nhân viên y tế cần theo dõi sát triệu chứng tâm thần kinh của bệnh nhân và ngừng sử dụng montelukast nếu bệnh nhân xuất hiện hoặc gặp triệu chứng trầm trọng hơn của biến cố tâm thần kinh.

- Khuyến khích bệnh nhân và người chăm sóc theo dõi các biến cố tâm thần kinh và đi khám ngay nếu xuất hiện triệu chứng.

 

Medsafe: Một số điểm đáng lưu ý khi sử dụng methotrexat

Trong năm 2024, 101 báo cáo ca mô tả phản ứng có hại liên quan đến methotrexat được ghi nhận tại New Zealand. Trong đó, 89 trường hợp được đánh giá ở mức độ nghiêm trọng. Đặc điểm của bệnh nhân trong các báo cáo được ghi nhận phần lớn là người cao tuổi (tuổi trung vị 66 tuổi), người gốc châu Âu/chủng tộc khác (71 báo cáo), là nữ giới (71 báo cáo) và được chỉ định methotrexat trong điều trị vẩy nến và viêm khớp dạng thấp. Các phản ứng có hại được báo cáo thường xuyên nhất bao gồm: buồn nôn (12 báo cáo), viêm phổi (10 báo cáo), giảm ba dòng tế bào máu (10 báo cáo), loét miệng (7 báo cáo), viêm phổi kẽ (6 báo cáo), mệt mỏi (5 báo cáo), giảm tiểu cầu (5 báo cáo), đau đầu (4 báo cáo), tăng men gan (4 báo cáo), giảm bạch cầu trung tính (4 báo cáo), nhiễm trùng huyết (4 báo cáo).

Để điều trị tình trạng vẩy nến hay viêm khớp dạng thấp, cần lưu ý rằng tần suất sử dụng methotrexat là hàng tuần (1 lần/tuần). Việc sử dụng methotrexat hàng ngày làm tăng nguy cơ gặp độc tính nghiêm trọng của thuốc, thậm chí gây tử vong cho người bệnh. Nguy cơ này cao hơn khi sử dụng methotrexat ở mức liều trên 20 mg mỗi tuần.

Phản ứng có hại liên quan đến methotrexat

Methotrexat có thể gây ra các phản ứng có hại nghiêm trọng trên nhiều hệ cơ quan, cụ thể được trình bày tại bảng dưới đây:

 

Hệ cơ quan

Tác dụng không mong muốn

Máu và hệ bạch huyết

Thiếu máu, giảm ba dòng tế bào máu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, xuất huyết

Hệ miễn dịch

Nhiễm trùng, bao gồm nhiễm trùng huyết

Hệ tiêu hóa

Nôn, tiêu chảy, viêm miệng, viêm nướu, viêm ruột, nhiễm độc gan, suy gan

Hệ hô hấp

Viêm phổi kẽ, tràn dịch màng phổi, xơ hóa phổi

Da và mô dưới da

Hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN), hồng ban đa dạng, nhạy cảm với ánh sáng, tăng nguy cơ ung thư da

Thận 

Bệnh lý cầu thận nghiêm trọng, suy thận

Hệ sinh dục

Khiếm khuyết trong quá trình hình thành tinh trùng và trứng, dị tật bẩm sinh, thai chậm phát triển (IUGR), sảy thai

Sử dụng thuốc trong thai kỳ và thời kỳ cho con bú

 

Methotrexat chống chỉ định trong thai kỳ vì nguy cơ gây dị tật bẩm sinh. Do đó, khi đang điều trị bằng methotrexat, bệnh nhân cần sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong suốt thời gian điều trị và sau khi ngừng thuốc (ít nhất 3 tháng đối với nam giới và ít nhất 6 tháng đối với nữ giới). 

Methotrexat cũng chống chỉ định sử dụng trong thời kỳ cho con bú.

 

Khuyến cáo cho nhân viên y tế

 

Methotrexat chỉ nên được kê đơn bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng methotrexat và nắm rõ nguy cơ khi sử dụng methotrexat. 

Trước khi khởi đầu điều trị với methotrexat, bệnh nhân cần được tiến hành xét nghiệm công thức máu, đánh giá chức năng gan và thận, chụp X-quang ngực. Đồng thời, khai thác tiền sử bệnh gan, sử dụng rượu hoặc tình trạng loét đường tiêu hóa. Dựa trên đánh giá lâm sàng, bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm sàng lọc lao, viêm gan B, viêm gan C và xét nghiệm thai kỳ.

Trong quá trình điều trị cần:

- Theo dõi công thức máu, chức năng gan và thận trong suốt quá trình điều trị với methotrexat. Đặc biệt, cần làm các xét nghiệm này thường xuyên hơn trong giai đoạn đầu của điều trị, khi tăng liều methotrexat, khi bệnh nhân có chức năng thận biến đổi, khi sử dụng đồng thời với các thuốc có tương tác với methotrexat hoặc ở bệnh nhân nguy cơ cao (như bệnh nhân cao tuổi). 

- Có thể bổ sung acid folic và acid folinic khi sử dụng methotrexat để giảm nguy cơ gặp độc tính trên đường tiêu hóa.

- Khuyến cáo bệnh nhân, gia đình hoặc người chăm sóc cần thông báo ngay lập tức cho bác sĩ điều trị nếu xuất hiện triệu chứng ngộ độc methotrexat, bao gồm: đau họng, bầm tím, loét miệng, buồn nôn, nôn, bụng khó chịu, nước tiểu sẫm màu, khó thở hoặc ho. 

- Theo dõi bệnh nhân thường xuyên để đánh giá đáp ứng điều trị, phát hiện độc tính và xử trí kịp thời.

Đảm bảo bệnh nhân, gia đình hoặc người chăm sóc hiểu đúng số lượng viên thuốc cần uống, ngày uống thuốc trong tuần và cách xử lý khi quên liều.

 

  1. QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM

CÔNG VĂN THU HỒI THUỐC, ĐÌNH CHỈ LƯU HÀNH THUỐC

 

vBệnh viện có nhận được Công văn 446/SYT-NVD của Sở Y tế Bình Dương ngày 21/02/2025 Về việc cảnh báo các thuốc do công ty Mylan Laboratories Limited tại Indone- Pithampur, Ấn Độ sản xuất.

Qua việc kiểm tra Kho Dược không có nhập các thuốc có trong danh mục đính kèm công văn trên

.

vBệnh viện có nhận được Công văn 632/SYT-NVD của Sở Y tế Bình Dương ngày 07/03/2025 Về việc thông báo thu hồi thuốc vi phạm mức độ 2 : Viên nang cứng Femancia Số GPLH VD27929-17 do công ty MeDiSun sản xuất

+ Số lô 031222, NSX 01/12/2022 Hạn dùng 02/12/2025

 

            + Số lô 020223, NSX 21/02/2023 Hạn dùng 21/02/2026

 

Qua việc kiểm tra lại thuốc đang có tại Khoa Dược, Thuốc Femancia với 2 số lô trên không có tại Kho Dược.

Khoa Dược thông báo đến các khoa/ phòng để phổ biến rộng rãi nội dung này cho tất cả nhân viên y tế trong bệnh viện biết.

 

III.BÁO CÁO ADR QUÝ I -2025 TẠI BỆNH VIỆN:

 

Tính đến ngày 31/03/2025 Khoa Dược ghi nhận được 2 ca ADR của bệnh nhân tại Khoa Khám bệnh.

STT

Tên thuốc, nồng độ/hàm lượng của thuốc nghi ngờ gây ADR

Mô tả chi tiết biểu hiện ADR

Cách xử trí phản ứng ADR

Mức độ nghiêm trọng của phản ứng

Kết quả sau khi xử trí

Ghi chú

1

ULTRACET 37.5+ 325mg

Mệt, chóng mặt, buồn nôn

Ngưng sử dụng thuốc nghi ngờ ADR

Không nghiêm trọng

Phục hồi không có di chứng

Ngoại trú

2

ATORVASTATIN 10mg 10mg

Đau đầu, tiêu chảy

Ngưng sử dụng thuốc nghi ngờ ADR

Phục hồi không có di chứng

Phục hồi không có di chứng

Ngoại trú


Tin tức liên quan

BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ IV.2025
BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ IV.2025

6 Lượt xem

BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ III.2025
BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ III.2025

7 Lượt xem

BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ iI.2025
BẢNG TIN THÔNG TIN THUỐC QUÝ iI.2025

6 Lượt xem


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng